Tâm lí có bìa - Grade: 1 PDF

Title Tâm lí có bìa - Grade: 1
Author Thùy Giang Nguyễn
Course tâm lí học giáo dục
Institution Đại học Sư phạm Hà Nội
Pages 17
File Size 379.8 KB
File Type PDF
Total Downloads 7
Total Views 68

Summary

Download Tâm lí có bìa - Grade: 1 PDF


Description

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC & MẦM NON ***************

BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI - SƯ PHẠM TIỂU HỌC

Họ và tên : NGUYỄN THÙY GIANG Mã SV: 203114202093 Lớp: ĐHGDTH1.K21

Hải Phòng, tháng 7 năm 2021

A- Mở đầu 1. Lí do chọn đề tài J.J Rutxô (1712-1778), ngay từ thế kỷ XVIII đã nhận xét rất tinh tế về những đặc điểm tâm lý của trẻ. Theo ông, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng, tình cảm độc đáo của trẻ em. Bởi vì trẻ em có cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó. Trẻ em ngày nay có sự phát triển tâm sinh lí nhanh hơn, sớm hơn so với trẻ em ở các thời đại trước đây. Và để có cái nhìn sâu hơn về những đặc điểm tâm lí, các quy luật, những biến đổi của quá trình tâm lí, các phẩm chất tâm lí trong sự hình thành, phát triển nhân cách của trẻ em , đặc biệt là trẻ tiểu học thì chúng ta nên bắt đầu từ việc tìm hiểu tâm lí học sư phạm và tâm lí học lứa tuổi tiểu học. 2. Mục đích Làm rõ các vấn đề liên quan đến đặc điểm nhân cách, nhận thức và đạo đức ở trẻ em hiện nay, đặc biệt là ở trẻ tiểu học. Qua đó giúp giáo viên tiểu học có phương pháp đối xử khéo léo trong sư phạm, tự rèn luyện, tự hoàn thiện bản thân trong sự nghiệp trồng người 3. Nhiệm vụ của đề tài - Tìm hiểu và phân tích về cơ sở tâm lí lứa tuổi cho việc xây dựng các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp với đặc điểm của quy luật tâm lí lứa tuổi tiểu học, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hỏa động dạy học và giáo dục ở tiểu học. - Chỉ ra cơ sở tâm lí của việc điều khiển quá trình dạy học, giáo dục, xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng giáo dục khác. - Rút ra quy luật hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, các phẩm chất đạo đức, nhân cách cùa học sinh tiểu học.

1

B- Nội dung I- Đặc điểm cơ bản của trẻ em hiện đại ( học sinh tiểu học ) 1.1. Đặc điểm nhu cầu của học sinh tiểu học - Ở học sỉnh tiểu học, tuy vẫn tồn tại một loại nhu cầu từng là đặc trưng cho lứa tuổi trước như nhu cầu vui chơi, vận động, nhu cầu về ấn tượng bên ngoài... Song những nhu cầu này đã có những nét mới trong nội dung cũng như cách thức thỏa mãn chúng. - Bên cạnh đó, ở học sinh tiểu học đã xuất hiện những nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống nhà trường và hoạt động học tập như nhu cầu thực hiện chính xâc yêu cầu của giáo viên; nhu cầu chiếm lĩnh những điều mới mẻ; nhu cầu rở thành học sinh giỏi, ngoan; nhu cầu trở thành đội viên đội TNTPHCM; nhu cầu muốn đảm nhận một trọng trách của tập thể, xã hội..... - Nhu cầu nhận thức, nhu cầu đọc sách được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh tiểu học..... - Nhu cầu ở các em phát triển mạnh theo các hướng: nhu cầu tinh thần càng ngày càng chiếm ưu thế hơn so với các nhu cầu vật chất và các nhu cầu càng ngày càng mang tính xã hội và tính nhận thức. Trong các nhu cầu của học sinh tiểu học, nhu cầu nhận thức giữ vai trò chủ đạo. - Hứng thú của học sinh tiểu học ngày càng bộc lộ và phát triển rõ rệt, đặc biệt là hứng thú nhận thức, hứng thú tìm hiểu thế giới xung quanh, các em thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết, thích đọc sách,.... 1.2. Đặc điểm tính cách của học sinh tiểu học - Những nét tính cách của các em mới được hình thành, chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội. - Ở học sinh tiểu học, điều dễ nhận thấy trong tính cách của các em là tính xung động trong hành vi, tức là khuynh hướng hành động ngay lập tức dưới tác động

2

của các kích thích bên trong và bên ngoài mà không kịp suy nghĩ, cân nhắc. Do vậy, hành vi của các em dễ có tính tự phát. - Một điều nữa cũng dễ nhìn thấy trong tính cách của học sinh tiểu học là rất hồn nhiên. Hồn nhiên trong quan hệ với người lớn, thầy cô giáo, bạn bè. Hồn nhiên nên là rất cả tin. Trẻ tin tưởng một cách tuyệt đối vào người lớn, sách vở và cả bản thân mình, với các em, không có gì là phức tạp, khó khăn. Các em tin ràng sẽ làm được mọi điều mình muốn. - Tính hay bắt chước cũng là đặc điểm quan trọng của học sinh tiểu học. Trẻ thích bắt chước người lớn, bạn bè cũng như các nhân vật trong phim, sách..... - Phần lớn học sinh tiểu học có những nét tính cách tốt như lòng dạ vị tha, tính ham hiểu biết, tính chân thật... Tuy nhiên, trong tính cách học sinh tiểu học cũng thường gặp những thiếu sót như bướng bỉnh và thất thường. 1.3. Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học - Ở học sinh tiểu học, tình cảm, xúc cảm vẫn mang những đặc điểm từng có ở lứa tuổi trước như: + Mang tính cụ thể, trực tiếp. Đối tượng gây cảm xúc cho các em thường là sự vật hiện tượng, con người cụ thể sinh động mà trẻ nhìn thấy hoặc đã tiếp xúc. + Rất dễ xúc cảm. Biểu hiện ở tính giàu cảm xúc và tính dễ xúc động. + Dễ bộc lộ tình cảm, khả năng kiềm chế tình cảm yếu. Trẻ thường bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên, chân thật, chưa biết ngụy trang. Vì vậy trẻ có thể khóc trước mặt cô giáo và bạn bè khi bị điểm kém, hoặc cười rất tươi khi được khen... + Tình cảm mong manh, chưa bền vững và chưa sâu sắc. Cảm xúc của các em dễ chuyển hóa buồn - vui; đang yêu thích đối tượng này lại chuyển sang đối tượng khác hấp dẫn hơn -> Dễ thay đổi bạn, dễ kết thân với bạn mới... - Đời sống tình cảm của các em đã có nhiều biến đổi dưới ảnh hưởng của cuộc sống nhà trường và hoạt động học tập. Sự biến đổi này đã diễn ra cả về nội dung 3

lẫn mức độ biểu hiện. Điều này được biểu hiện rõ nhất ở sự hình thành và phát triển các tình cảm cấp cao của các em. + Học sinh tiểu học có tình cảm đặc biệt đối với người thân trong gia đình và thầy cô giáo. Tình cảm đó trở thành động cơ thúc đẩy các em học tập. Tình bạn trong nhóm tổ cũng được hình thành. Nếu trẻ đầu tiểu học chọn bạn chủ yếu dựa vào sự giống nhau về những hoàn cảnh sống bên ngoài, về những hứng thú ngẫu nhiên như ngồi cùng bàn, sống cùng xóm..... thì cuối tiểu học chọn bạn dựa vào các đức tính của bạn ( dũng cảm, hay giúp đỡ bạn bè.....) + Tình cảm trí tuệ như ham hiểu biết, ngạc nhiên, nghi ngờ, hài lòng khi hoàn thành các bài tập, chán nản khi không biết giải bài tập..... được hình thành và phát triển mạnh. + Tình cảm thẩm mỹ cũng được phát triển mạnh..... - Nét chung trong đời sống tình cảm của học sinh tiểu học là yêu đời, sảng khoái, vui vẻ. Tuy vậy, những đặc điểm cá nhân trong tình cảm được hình thành khá rõ ở lứa tuổi này. - Đối với học sinh tiểu học, tình cảm còn có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền với nhận thức của trẻ. Vì vậy, nắm được cac đặc điểm tình cảm và biết được phương pháp giáo dục tình cảm cho các em là nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. 1.4. Đặc điểm ý chí và hành động ý chí của học sinh tiểu học - Ở học sinh tiểu học, tình cảm giữ vai trò quan trọng trong các hành động ý chí của các em, Trong nhiều trường hợp, nó trở thành động cơ của hành vi, của hoạt động. Vì thế, ở lứa tuổi này, sự phát triển của ý chí và tình cảm diễn ra trong sự tác động lẫn nhau không ngừng. - Học sinh tiểu học chưa có khả năng tự đặt ra mục đích cho hành động của mình và chưa biết lập kế hoạch của hành động. Nên trẻ không thể tập trung sức lực và kiên trì theo đuổi mục đích. Vì vậy, các em dễ gặp thất bại và dễ mất lòng tin vào sức lực, khả năng của mình. 4

- Tính độc lập, kiềm chế và tự chủ còn thấp, nên học sinh tiểu học, nhất là ở các lớp đầu tiểu, chưa thể độc lập hoàn toàn trong hành động mà còn trông chờ nhiều vào sự giúp đỡ của người khác. - Tính bộc phát ngẫu nhiên vẫn còn trong các hành động ý chí của học sinh tiểu học, nên các em dễ bắt chước hành động của người khác. 1.5. Đặc điểm tự đánh giá của học sinh tiểu học - Ở học sinh tiểu học, biểu tượng về mình và tự đánh giá được hình thành và các kĩ xảo tự kiểm tra, tự điều hành cũng được xuất hiện. - Học sinh tiểu học đã có nhu cầu nhận thức về mình và tự đánh giá được hình thành và các kĩ xảo tự kiểm tra, tự điều hành cũng được xuất hiện. - Học sinh tiểu học đã có nhu cầu nhận thức về mình, có biểu tượng đầy đủ về bản thân thông qua hoạt động đánh giá của chính mình trong quá trình giao tiếp với người khác. Tuy nhiên mức độ hình thành biểu tượng bản thân ở các em là khác nhau: + Ở một số trẻ, biểu tượng về bản thân đã tương đối phù hợp và bền vững, chứa đựng trong đó nhiều phẩm chất cơ bản, phức tạp và khái quát nhân cách của mình. + Ở một số trẻ khác, biểu tượng này không phù hợp và không bền vững, số lượng các phẩm chất của mình được ý thức rất ít. Thậm chí ở một số trẻ, trong biểu tượng về bản thân chỉ có những đặc điểm, phẩm chất mà người khác nói về mình. - Từ lớp này đến lớp khác, kĩ năng đánh giá mình một cách đúng đắn được phát triển: khuynh hướng đánh giá cao hơn cái có thực ở bản thân được hạ thấp; có sự chuyển tiếp từ đánh giá tình huống - cụ thể sang đánh giá ngày càng khái quát hơn; tính độc lập trong tự đánh giá cũng tăng lên. - Tự đánh giá của học sinh các lớp cuối tiểu học phụ thuộc khá nhiều vào nội dung và chuẩn đánh giá. Những gì cụ thể, gần gũi với các em thì các em thường tự đánh giá một cách tự tin và mạnh dạn hơn. Ngược lại, những nội dung trừu tượng thường được các em tự đánh giá một cách dè dặt, thận trọng và khiêm tốn hơn. Tự đánh giá của các em chưa thật khách quan và phù hợp; các em thường tự đánh giá 5

bản thân cao hơn so với hiện thực. Tính ổn định trong tự đánh giá của các em cũng chưa cao và có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học lực 1.6. Giáo dục trẻ em hiện nay vừa dễ lại vừa khó là vì: - Phương tiện thông tin lại là một trong những khó khăn trong giáo dục con cái. Đơn giản vì trong xã hội ngày nay các phương tiện thông tin như máy tính, ti vi, điện thoại… phát triển rất mạnh mẽ. Trẻ được tiếp xúc những phương tiện này từ rất sớm, có rất nhiều điều hữu ích cho trẻ học tập nhưng khó khăn cho cha mẹ ở đây đó là không kiểm soát được hết lượng thông tin mà trẻ tiếp nhận trên mạng xã hội. Như vậy cách tốt nhất để phát triển nhân cách cho trẻ đó là không nên cho trẻ tiếp xúc mạng xã hội và điện thoại từ sớm thay vào đó bạn nên cho trẻ tham gia các trò chơi vận động cơ thể để trẻ phát triển theo đúng lứa tuổi của mình. - Kinh tế, xã hội, khoa học phát triển, trẻ em có thể tiếp cận được với nhiều kênh thông tin ti vi, mạng internet, tài liệu, sách báo...) nhưng các em lại chưa đủ khả năng chọn lọc, phân tích cái gì là tích cực nên làm theo và cái gì tiêu cực cần tránh. - Nhiều gia đình chỉ quan tâm đến kết quả học tập của con chứ không chú ý rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ, không khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, hòa nhập vào cộng đồng làm ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy có em sau khi đạt được danh hiệu Học sinh xuất sắc thì rơi vào trạng thái trầm cảm, rối nhiễu tâm trí... - Hầu hết các bậc cha mẹ ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, trình độ học vấn có hạn không có hoặc thiếu kiến thức, kỹ năng giáo dục con; vẫn còn quan niệm giáo dục văn hóa, đạo đức nói chung... là nhiệm vụ của nhà trường - Số khác kinh tế khó khăn thì cha mẹ chủ yếu chỉ tập trung kiếm kế sinh nhai, không quan tâm đến việc giáo dục, học tập của con; những hộ gia đình khá giả ở thị trấn, đô thị quan tâm đầu tư cho con học hành thành đạt nhưng vì áp lực của công việc, kiếm tiền nên phó thác cho gia sư, nhà trường, thậm chí cả người giúp việc. 6

- Áp lực học tập nặng, chương trình học ở trường nhiều, nên các em có ít thời gian tiếp xúc với cha mẹ, gia đình. Thói quen dạy con theo kiểu áp đặt “cha mẹ nói sao con nghe vậy” thiếu sự trao đổi cởi mở đã tạo khoảng cách giữa cha mẹ và con, đặc biệt ở tuổi vị thành niên. Thách thức của gia đình trong cuộc sống hiện đại (bạo lực, cờ bạc, rượu bia, thuốc lá…) và các tệ nạn xã hội khác đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc giáo dục trẻ. - Hiện nay, trong điều kiện đầy đủ về vật chất, mỗi đứa trẻ được hấp thu dưỡng chất từ nguồn thức ăn, sữa cho đến môi trường giáo dục, công nghệ. Mức độ nhận thức cũng như độ tuổi dậy thì của trẻ đang có dấu hiệu phát triển nhanh hơn. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), độ tuổi dậy thì của trẻ đang có hiện tượng sớm hơn 2-3 năm đối với bé gái, 1-2 năm với bé trai. Dậy thì sớm ở trẻ ngoài những ảnh hưởng trực tiếp trong sinh hoạt, còn dẫn đến nhiều hệ lụy về cảm xúc, tâm lý và xã hội. Nhiều trẻ còn có những suy nghĩ “già dặn” hơn so với lứa tuổi. - Trẻ em bây giờ thông minh hơn, có khả năng bắt chước gần như hoàn toàn hành động của người khác. - Xã hội có nhiều tệ nạn, lứa tuổi trẻ em rất dễ bị dụ dỗ, lôi kéo dẫn đến làm những việc trái pháp luật. - Do tiếp cận với các các thiết bị điện tử thông minh như: điện thoại, ipad, máy tính,... từ sớm nên dễ bị cận thị và trẻ bị cận thị từ sớm chiếm khá nhiều. II - Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học 2.1. Đặc điêm tri giác của học sinh tiểu học - Tri giác của các em mang tính không chủ định: chỉ biết nhìn mà chưa biết quan sát, phụ thuộc vào chính các đối tượng được tri giác, đượm màu sắc xúc cảm. -Tri giác của các em mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết: chú ý các chi tiết ngẫu nhiên, không tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, chỉ dừng lại ở nhận biết và gọi tên, chưa có khả năng phân tích và tổng hợp mà chi liệt kê những gì nhìn thấy.... 7

- Tri giác của các em gắn liền với các hành động và hoạt động thực tiễn của trẻ. - Cuối tuổi tiểu học, tri giác phát triển chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn. Các em đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân tích tồng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa các chi tiết, tri giác mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng. 2.2. Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học Đặc điểm nổi bật nhất của tư duy học sinh tiểu học là chuyển dần từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát: tính trực quan, cụ thể giảm dần còn tính trừu tượng, khái quát tăng dần theo khối lớp. Điều này được biểu hiện trên tất cả các mặt của tư duy: - Trong khi tiến hành các thao tác tư duy + Phân tích - tổng hợp: Đầu tiểu học: thao tác phân tích - tổng hợp còn sơ đẳng, chủ yếu bằng hành động thực tiễn khi tri giác trực tiếp đối tượng. Khi phân tích thường chỉ tách ra một cách riêng lẻ các bộ phận, từng thuộc tính của đối tượng, hoặc chỉ cộng lại một cách đơn giản các thuộc tính, các bộ phận để làm nên cái toàn thể khi tổng hợp. Cuối tiểu học: có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định. Tuy nhiên trẻ vẫn khó khăn khi tiến hành tổng hợp. + So sánh: Đầu tiểu học: Trẻ thường nhầm lẫn so sánh với kể lại một cách giản đơn các đối tượng cần so sánh. Cuối tiểu học: Tuy đã biết đi tìm sự giống nhau và khác nhau nhưng các em thường hoặc là chỉ tìm thấy cái giống nhau và cái khác nhau. Như vậy, học sinh tiểu học đã biết tiến hành so sánh, nhưng chưa hình thành một cách đầy đủ + Trừu tượng hóa và khái quát hóa: Là những thao tác khó đối với học sinh tiểu học. 8

Đầu tiểu học: Trẻ hợp nhất các đối tượng không dựa vào dấu hiệu chung, bản chất của chúng mà vào những dấu hiệu chung giống nhau ngẫu nhiên hay chức năng. Cuối tiểu học: Đã nhìn thấy các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát đúng đắn. Trên cơ sở đó, học sinh biết phân loại và phân hạng trong nhận thức. - Trong lĩnh hội khái niệm: Đầu tiểu học: Thường lấy các đối tượng cụ thể thay cho định nghĩa nó. Cuối tiểu học: Có thể hiểu khái niệm dựa vào dấu hiệu bản chất của chúng. - Trong phán đoán và suy luận: Đầu tiểu học: Thường chỉ phán đoán một chiều mang tính khẳng định dựa vào một dấu hiệu duy nhất. Khi suy luận dựa trên tài liệu trực quan cụ thể nên rất khó khăn khi phải chấp nhận giả thuyết “Nếu” cũng như mối quan hệ nhân quả. Các em thường lẫn lộn nguyên nhân và kết quả, hiểu mối quan hệ này chưa sâu sắc. Cuối tiểu học: Biết dựa vào nhiều dấu hiệu bản chất và không bản chất để phán đoán nên phán đoán có tính giả định. Trẻ có thể chứng minh, lập luận cho phán đoán của mình. Khi suy luận đã biết dựa vào tài liệu bằng ngôn ngữ và trừu tượng hơn. Song việc suy luân của các em sẽ dễ dàng hơn nếu có tài liệu trực quan làm chỗ dựa. 2.3. Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học - Tưởng tượng của học sinh tiểu học được phát triển, phong phú hơn nhiều so với trẻ trước tuổi học và có sự quyện chặt giữa tưởng tượng phóng khoáng với hiện thực. - Tưởng tượng tái tạo ở học sinh tiểu học được hoàn thiện. Các hình ảnh của tưởng tượng dần dần trở nên sát thực hơn, phản ánh đúng đắn hơn hiện thực. - Tưởng tượng của học sinh tiểu học được phát triển trong hoạt động đặc biệt là hoạt động học tập. Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở trẻ tiểu học là : 9

+ Tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng hiện thực khách quan trên cơ sở tri thứ tương ứng. + Tiến dần đến phản ánh một cách khái quát, sáng tạo hiện thực khách quan trên cơ sở của ngôn từ và các hệ thống kí hiệu khác. 2.4. Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học - Ở học sinh tiểu học, trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơn trí nhớ từ ngữ - logic..... - Tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế cả trong ghi nhớ lẫn tái hiện, nhất là ở các lớp đầu tiểu học..... - Học sinh tiểu học có khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi nhớ máy móc..... - Tình cảm có ảnh hưởng lớn đến độ bền vững và độ nhanh của sự ghi nhớ của học sinh tiểu học..... Hơn nữa phần lớn học sinh tiểu học chưa biết sử dụng các biện pháp ghi nhớ, nhất là các biện pháp ghi nhớ ý nghĩa: tìm điểm tựa, so sánh, lập dàn ý..... - Dưới ảnh hưởng của hoạt động học tập, cùng với trí nhớ không chủ định, trí nhớ máy móc, trí nhớ trực quan - hình tượng, trí nhớ có chủ định, trí nhớ ý nghĩa, trí nhớ từ ngữ - logic được xuất hiện, phát triển, chúng giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động học tập của học sinh tiểu học. 2.5. Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh tiểu học - Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng. Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa. Việc hiểu nghĩa bóng của từ còn khó khăn đối với trẻ. Các em đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết. - Ngôn ngữ viết được hình thành và phát triển mạnh, mặc dù vẫn hạn chế hơn nhiều so với ngôn ngữ nói.... - Trong suốt quá trình học ở tiểu học, kỹ năng đọc của trẻ được hoàn thiện dần. Tuy nhiên, trẻ vẫn gặp khó khăn khi đọc hiểu. 10

2.6. Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học - Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học. - Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá trình học tập nhất là các lớp đầu tiểu học. - Chú ý của học sinh tiểu học phụ thuộc vào nhịp độ học tập. Nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý. Học sinh tiểu học thường tập trung chú ý hơn khi thực hiện những hành động bên ngoài hơn là hành động trí óc hoặc là phải thực hiện các bài tập khó, có nhiều cách giải hoặc là khi tiến hành những hoạt động sáng tạo. - Khối lượng chú ý của học sinh tiểu học hẹp, sự phân phối chú ý của trẻ diễn ra một cách khó khăn. - Ở tiểu học, chú ý có chủ định còn yếu nhưng nó sẽ phát triển mạnh mẽ dưới sự hướng dẫn và rèn luyện của giáo viên trong học tập. Bên cạnh đó chủ ý sau chủ định cũng được hình thành khi động cơ học tập nhận thức được hình thành và phát triển. 2.7. Kết luận sư phạm - Giáo viên tiểu học có vai trò rất lớn trong việc chỉ dạy cách nhìn, hình thành kỹ năng nhìn cho học sinh, hướng dẫn các em biết xem xét, biết lắng nghe. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động với thầy, với bạn. - Giáo viên cần đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc thực, qua dạy học hợp tác hành động để phát triển tư duy cho học sinh. - Giáo viên cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc cảm, tình cảm tích cực ở trẻ để kích thích trẻ tích cực trong học tập. Nhu cầu hứng thú có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định cho nên giáo viên cần tìm cách làm cho giờ học hấp dẫn để lôi cuốn sự chú ý của học sinh. - Giáo viên cần kết hợp chặt chẽ với gia đình về việc giám sát, hướng dẫn và rèn luyện học sinh trong học tập. 11

III- Vai trò của nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 3.1. Vai trò của nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh Nhà trường tiểu học là nơ...


Similar Free PDFs